• CHỈ CÓ TỰ DO DÂN CHỦ MỚI CÓ PHÁT MINH SÁNG TẠO

    Trương Duy Nghênh

    Bài của nhà kinh tế học Trương Duy Nghênh Trung quốc, nói chuyện trong lễ tốt nghiệp Đại học với sinh viên, đã được lan truyền nhanh đến chóng mặt, nhưng chưa được 12 giờ nó đã bị Trung cộng gỡ khỏi mạng xã hội. Nguyên văn:

    TỰ DO LÀ MỘT TRÁCH NHIỆM

    Chào các em sinh viên! Xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!

    “Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.

    Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%.

    30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500, chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.

    Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

    Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc.

    Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo Albernathy,Clark and kantrow, 1984).

    Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.

    Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.

    Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.

    Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.

    Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.

    Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%

    Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa !

    Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

    Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?

    Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.

    Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.

    Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.

    Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.

    Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.

    Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.

    Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

    Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo

    Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.

    Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.

    Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.

    Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in

    Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.

    Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.

    Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.

    Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

    Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”

    Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!

    Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.

    Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.

    Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.

    Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!

    Nguồn:

    Trithucvn

    https://phamnguyentruong.blogspot.com

    Ngày 1.7.2017, nhà kinh tế học TQ TRƯONG DUY NGHÊNH đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”

    Nguồn: FB. Nguyễn Nam Hải

  • KEVIN WARSH LÊN GHẾ CHỦ TỊCH FED. VÀNG GIẢM VÀ KHÔNG PHẢI LÀ NGẪU NHIÊN.

    Tin Kevin Warsh được Trump đề cử trở thành Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang vừa xuất hiện, thị trường phản xạ ngay. Vàng đang neo cao thì bị kéo xuống. Không cần tin xấu. Chỉ cần thay người cầm lái.

    Muốn hiểu vàng sẽ đi đâu, không nên nhìn vào một phiên giảm. Phải nhìn người đang ngồi ghế đó là ai, và ông ta nghĩ gì về tiền?.

    KEVIN WARSH LÀ AI?

    Kevin Warsh không phải gương mặt mới. Ông từng là Thống đốc FED giai đoạn 2006–2011, trực tiếp ở trong phòng khi khủng hoảng 2008 nổ ra. Xuất thân Phố Wall, Morgan Stanley. Không phải kiểu học giả chỉ quen mô hình.

    Điểm đáng nói không nằm ở quá khứ.

    Nó nằm ở chỗ hiện tại: Warsh đã nhìn thấy hệ thống tài chính mong manh như thế nào khi chính sách đi quá tay.

    ÔNG TA NGHĨ GÌ VỀ TIỀN?

    Warsh không tin lãi suất cao kéo dài là trạng thái “an toàn”. Ông từng nói thẳng: phản ứng chậm với rủi ro hệ thống còn nguy hiểm hơn lạm phát đơn lẻ.

    Ông cũng không thuộc nhóm thích siết tiền để giữ hình ảnh “chống lạm phát bằng mọi giá”. Warsh chọn linh hoạt. Chấp nhận lạm phát ở mức chịu được nếu đổi lại là hệ thống không gãy.

    Và quan trọng hơn, ông rất cảnh giác với cả hai thái cực:

    bơm tiền quá lâu thì bào mòn niềm tin vào tiền pháp định,

    siết tiền sai lúc thì hệ thống sập còn nhanh hơn.

    PHONG CÁCH ĐIỀU HÀNH

    Warsh không phải mẫu Chủ tịch FED thích phát biểu dồn dập. Ít nói. Quan sát phản ứng thị trường. Quyết định kín. Tránh gây sốc công khai.

    Hệ quả thường thấy là gì?

    Giai đoạn đầu: thị trường rung lắc mạnh.

    Sau đó: nhà đầu tư buộc phải tự định giá lại rủi ro dài hạn, thay vì bám vào phát biểu.

    VẬY VÀNG ĐANG BỊ ẢNH HƯỞNG RA SAO?

    Ngắn hạn, phản ứng rất “thị trường”: chốt lời, giảm đòn bẩy, vàng điều chỉnh sau ATH. Không có gì lạ. Đổi Chủ tịch FED thì kỳ vọng phải được reset.

    Nhưng nhìn xa hơn một chút.

    Nếu chính sách tiền tệ trở nên linh hoạt hơn, lãi suất khó giữ trạng thái cao – cứng quá lâu. USD vì thế cũng khó giữ sức mạnh tuyệt đối.

    Đó là môi trường mà vàng thường quay lại vai trò phòng thủ. Không ồn ào. Không tăng dựng đứng. Nhưng đi rất lì.

    Dài hạn hơn nữa, khi FED ưu tiên ổn định hệ thống thay vì hình ảnh, thì niềm tin vào tiền pháp định sẽ bị soi xét nhiều hơn. Và mỗi lần niềm tin bị bào mòn, tài sản hữu hạn lại được nhìn bằng con mắt khác.

    NHÌN LẠI NHỊP ĐIỀU CHỈNH HIỆN TẠI

    Vàng vừa trải qua một pha tăng nóng. Điều chỉnh mạnh là chuyện phải xảy ra. Đặt nó cạnh việc đổi lãnh đạo FED, rũ FOMO, xả đòn bẩy, thì nhịp giảm này giống một cú “làm sạch” hơn là phủ nhận xu hướng.

    📌 AI MUỐN THEO DÕI SÂU HƠN

    Trong nhóm em đang cập nhật:

    kịch bản giá vàng dưới thời Chủ tịch FED mới,

    các vùng điều chỉnh – tích lũy theo từng nhịp,

    cách dòng tiền lớn đang âm thầm tái cơ cấu.

    👉 Anh/chị để lại một dấu chấm (.) và tham gia nhóm

    Em duyệt thủ công từng người vào cộng đồng để cập nhật trước thị trường.

    Bài viết chia sẻ góc nhìn vĩ mô & chính sách, không phải lời khuyên đầu tư.

    Nguồn: FB. Nguyên Euro

  • Một số hình ảnh Trung đội Sài Gòn họp mặt tất niên Ất Tỵ

    21 thân hữu hai khoá LVC & HTK ở Sài Gòn đã có buổi họp mặt tất niên Ất Tỵ tại nhà hàng Gold Fish ở khu dân cư mới Him Lam (Q.7 cũ) trong tuần qua. Tại buổi họp mặt lần đầu ở một nhà hàng sang trọng, anh chị em sau khi hàn huyên đủ thứ chuyện vui buồn đáng nhớ trong năm qua. Các bạn đã tỏ ra hết sức phấn chấn khi bàn về việc chuẩn bị cho Hội khoá Đà Nẵng-Hội An sắp đến.

    Sau đây là một số hình ảnh buổi họp mặt:

    Hàng ngồi, trái sang: Minh Hà, Phương Anh, Nguyễn Lan Hương, Trần Thị Cúc (phu nhân bạn Lê Lâu).
    Hàng đứng: Thúy Liên (PV-HTK), Nguyễn Khả Nho, Diệu Hòa.
    Trà Mai, Diệu Hòa (đứng), Giáng Hương, Đặng Thị Ngâu và Nguyễn Thị Sửu (VH-LVC)
    Trần Thị Trà Mai (VH-LVC), Lê Bân, Phan Hiếu, Lê Lâu
    Đặng Thị Ngâu, Nguyễn Thị Giáng Hương, Nguyễn Thị Minh Hà, Hồ Diệu Hòa, Lê Khắc Phương Anh, Nguyên Thị Lan Hương.
    Phu quân bạn Đặng Thị Ngâu (T-LVC)
    Lê Ngọc Sử (LH-LVC, Thủ khoa khóa LVC))
    Em út Nguyễn Thị Lan Hương (VH-LSPT) và Hồ Thị Diệu Hòa (VV-HTK)
    Đặng Thị Ngâu (T-LVC) và phu quân.
    Văn Đức Triệu (PV-LVC) và hiền thê.
  • CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHÁT NGÔN VÀ TRUYỀN THÔNG HIỆN ĐẠI

    Bài của anh Lê Thọ Bình.

    CÂU CHUYỆN NGƯỜI PHÁT NGÔN VÀ TRUYỀN THÔNG HIỆN ĐẠI

    Ngày Karoline Leavitt được bổ nhiệm làm thư ký báo chí Nhà Trắng, nhiều tờ báo Mỹ không nói về tầm nhìn truyền thông của chính quyền, mà chỉ nói về… tuổi của cô. “Quá trẻ”, “thiếu kinh nghiệm”, “một lựa chọn mang tính biểu tượng hơn là năng lực”, những dòng tít ấy phản ánh đúng tâm thế của một nền báo chí đã quen đứng trên bục phán xét, hơn là tự đặt câu hỏi về chính mình.

    Nhưng chỉ sau vài tháng, Karoline Leavitt đã làm điều mà không ít người tiền nhiệm dày dạn kinh nghiệm chưa từng làm được: cô đảo chiều thế trận. Từ chỗ người phát ngôn bị dồn ép, xin lỗi, né tránh, Leavitt biến phòng họp báo thành nơi báo chí phải tự chịu trách nhiệm về chuẩn mực nghề nghiệp của mình.

    Hiện tượng Karoline Leavitt không phải là câu chuyện cá nhân. Nó là dấu hiệu của một bước ngoặt lớn trong quan hệ giữa chính quyền và truyền thông.

    Suốt nhiều thập kỷ, báo chí phương Tây tự xem mình là “quyền lực thứ tư”, người giám sát quyền lực. Vai trò đó từng rất cần thiết. Nhưng trong kỷ nguyên mạng xã hội, thuật toán và phân cực chính trị, không ít cơ quan truyền thông đã rời xa sứ mệnh ấy. Họ không còn “đi tìm sự thật”, mà “đi tìm lập trường”; không còn đặt câu hỏi để hiểu, mà đặt câu hỏi để kết luận thay cho người trả lời.

    Trong bối cảnh đó, người phát ngôn không thể chỉ là “người trả lời câu hỏi” nữa. Họ phải trở thành người định hình lại khung sự thật. Karoline Leavitt đã làm đúng vai trò ấy: cô không phòng thủ, cô dẫn dắt; không xin lỗi vì những tiền đề sai, cô bác bỏ chúng.

    Sự đảo chiều này cho thấy một thực tế: quyền lực diễn ngôn đang rời khỏi truyền thông để quay lại với người phát ngôn. Không phải vì chính quyền mạnh hơn, mà vì báo chí đã tự làm suy yếu mình khi đánh đổi chuẩn mực nghề nghiệp lấy cảm xúc, sự trung lập lấy ý thức hệ, và sự thật lấy lượt xem.

    Công chúng ngày nay không còn tin vào những câu hỏi được “dàn dựng”. Họ tin vào những tiếng nói nói thẳng, nói rõ, và dám chịu trách nhiệm. Karoline Leavitt trở thành biểu tượng của thế hệ phát ngôn viên mới: trẻ, thông minh, và hiểu rằng truyền thông không còn là “trọng tài”, mà là một chủ thể cũng phải bị giám sát.

    Từ hiện tượng này, có thể phỏng đoán tương lai của truyền thông sẽ phân hóa mạnh mẽ. Một phía tiếp tục trượt dài trong “bong bóng lập trường”, ngày càng xa rời công chúng. Phía còn lại, ít ồn ào hơn, sẽ buộc phải quay về với cốt lõi: trung thực, khiêm nhường trước sự thật, và tôn trọng trí tuệ người đọc.

    Quan trọng hơn, hiện tượng Karoline Leavitt đặt ra một gợi ý cho Việt Nam.

    Chúng ta đang có những người phát ngôn rất thận trọng, rất chuẩn mực, nhưng đôi khi quá bị động. Nhiều thông điệp dừng lại ở mức “quan ngại sâu sắc”, “theo dõi sát sao”, “kêu gọi các bên kiềm chế”, những cụm từ an toàn nhưng không còn đủ sức nặng trong một thế giới truyền thông tốc độ cao và cạnh tranh khốc liệt về diễn ngôn.

    Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam không chỉ cần phát ngôn đúng, mà cần phát ngôn chủ động: chủ động đặt khung câu chuyện, chủ động dẫn dắt dư luận quốc tế, chủ động bảo vệ lợi ích quốc gia bằng ngôn ngữ hiện đại, sắc sảo và thuyết phục.

    Karoline Leavitt cho thấy: một người phát ngôn giỏi không phải là người “trả lời khéo”, mà là người khiến thế giới phải trả lời theo khung sự thật của mình.

    Truyền thông sẽ đi về đâu?

    Câu trả lời không chỉ nằm ở các tòa soạn, mà nằm ở những người phát ngôn đủ trí tuệ và bản lĩnh để dẫn dắt sự thật.

    Và đã đến lúc Việt Nam bước vào cuộc chơi ấy, không chỉ với sự thận trọng, mà với sự tự tin và chủ động của một quốc gia đang vươn lên.

    Nguồn: FB Trần Ngọc Giàu 

  • Thơ LÃNG DU CUỐI ĐÔNG…

    Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm (VH-LVC)

    Không so đo, không tính toán

    Không ganh ghét chẳng sân si

    Năm Tỵ lo bão lũ, lệ tràn mi

    Nay qua rồi ta thong dong dạo bước…

        Thiền Viện Bồ Đề bao ngày mong ước…

        Phật tổ trên cao dõi mắt nhìn ta

       Ôi, đức Phật cứu vớt cõi ta bà

       Xin nguyện được tâm an, trí sáng…

            Kính lạy ngài Địa Tạng hiền hòa

           Cầm tích trượng leng keng xua đuổi

           Những u ám bóng đen mê muội…

           Ngọc minh châu chiếu sáng hồn người!

    Những nụ cười nở trên môi

    Nắm tay nhau vui đùa ca hát…

    Trong ánh nắng ban mai dịu mát

    Xuân sắp đến rồi mong hạnh phúc muôn nơi!

                Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm      

    Thiền Viện  Bồ Đề,  chủ nhật 28/12/ 2025

     LINK: video LÃNG DU CUỐI ĐÔNG 2025:

    Kính mời coi vài hình ảnh về Thiền Viện

    Hình: Giây phút lãng du tại Thiền Viện Bồ Đề Đà Nẵng  28/12/2025

  • THA LA XÓM ĐẠO

    NguyenDu Nguyễn (nguyên GĐ Đài PT&TH Huế, nhà báo, nhà văn chuyên viết về Huế)

    Mỗi dịp Noel giữa mùa đông hay mùa hoa gạo đầu hè tôi lại nhớ đến số phận của bài thơ “Tha La xóm đạo”, số phận của nhà thơ Vũ Anh Khanh.

    “Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng/Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá/Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ/Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ…”.

    Thời nhà Nguyễn cấm đạo thập niên 30, thế kỷ XIX, một nhóm người Công giáo ở kinh đô Huế do ông Côximô Nguyễn Hữu Trí dẫn đầu đã di cư vào Nam, đến một vùng hẻo lánh ở Trảng Bàng (Tây Ninh) khai khẩn đất hoang, giữ đạo, xây dựng nhà thờ. Tha La là tên riêng Việt hóa một từ Khmer có nghĩa như một trạm nghỉ chân.

    Bài thơ “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh viết về cảm xúc của một viễn khách đến Tha La trong thời chiến tranh chống Pháp, làng quê chịu bao khói lửa tang thương, xóm thôn vắng vẻ, nỗi buồn xót xa, hiu quạnh. Người tu hành hay con chiên ngoan đạo ở Tha La đều lên đường cầm súng chống giặc ngoại xâm:

    “Tha La nguyện hy sinh/Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành/Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy/Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy/Lạy Đức Thánh Cha!/Lạy Đức Thánh Mẹ!/Lạy Đức Thánh Thần!/Chúng con xin về cõi tục để làm dân…/Rồi… cởi trả áo tu./Rồi… xếp kinh cầu nguyện/Rồi… nhẹ bước trở về trần…”.

    Có thể nói đây là một bài thơ yêu nước hay và hiếm bởi nói về giáo dân nơi xóm đạo lên đường kháng chiến.

    Bài thơ “Tha La xóm đạo” càng nổi tiếng khi được các nhạc sĩ Dzũng Chinh và Sơn Thảo phổ nhạc, soạn giả Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý của bài thơ để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La xóm đạo”, các nghệ sĩ cải lương Chí Tâm và Lệ Thủy hát rất được mọi người yêu thích.

    Tuy vậy, bài thơ không được cả hai miền Nam, Bắc nhắc đến trong các dòng văn học vì “vấn đề chính trị” của tác giả Vũ Anh Khanh, một người viết văn nổi tiếng ở Sài Gòn những năm 50 thế kỷ trước. Với miền Nam, ông là người theo kháng chiến, là Việt Minh, thậm chí là Việt Cộng, tập kết ra Bắc năm 1954. Với miền Bắc, ông là người phản bội bởi sau khi tập kết ra Bắc ông lại tìm đường trở về miền Nam và bị bắn chết ngay trên sông Bến Hải năm 1956.

    Chiến tranh là vậy, tôi nhớ đến ca khúc “Lá thư trần thế” của Hòai Linh:

    “Lạy Chúa con là thiếu phụ miền quê/Chồng con vì nước nên đã ra đi/Hai ba năm chưa thỏa chí/Hết Thu qua Xuân sang Hè/Con đợi tàn Đông mới tin về…”.

    Nhân Noel, tôi muốn làm viễn khách về thăm xóm đạo, lần bước theo lời thơ “Tha la xóm đạo”: “Không là duyên, không là bèo kiếp trước/Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!/Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu/Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ/Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió/Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng/Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng…”

    Nhà thờ Đức Mẹ Hằng cứu giúp-dòng chúa Cứu Thế, Huế
    Hoa Gạo ở Đài PT&TH Huế, đường Hùng Vương

    FB Nguyendu Nguyen

    P/S:

    Lời bình: Bài rất tuyệt. Có chi tiết check xem có phải tác giả Vũ Anh Khanh bị bắn năm 1956 ? Vì theo HIệp định 1954 hai miền được qua về 2 năm chờ Tổng tuyển cử! (Thu Pham Huu)

    Nguyendu Nguyen: Dạ bị bắn bằng súng tẩm thuốc độc thay bằng đạn vì sợ bị vi phạm lệnh đình chiến! Năm 1956 hai miền đã căng rồi anh, cán bộ nhà nước đi nghỉ phép ở Vĩnh Phúc, sửa lại Vĩnh Linh, chắc không ai cho vô Nam!

    ***

    Tha La

    Vũ Anh Khanh

    Đây Tha La xóm đạo
    Có trái ngọt cây lành
    Tôi về thăm một dạo
    Giữa mùa nắng vàng hanh.
    Ngậm ngùi Tha La bảo:
    – Đây rừng xanh rừng xanh
    Bụi đùn quanh ngõ vắng,
    Khói đùn quanh nóc tranh.
    Gió đùn quanh mây trắng,
    Và lửa loạn xây thành.

    – Viễn khách ơi!
    Hãy dừng chân cho hỏi,
    Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.

    Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
    Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
    Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
    Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
    Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
    Ai đưa đón?
    – Xin thưa, tôi lạc bước!

    Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
    Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
    Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
    Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
    Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
    Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
    Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
    Tha La hỏi:
    – Khách buồn nơi đây vắng?
    Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

    – Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
    Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
    Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
    Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
    Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
    Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
    Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
    Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
    Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
    Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
    Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
    Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
    – Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
    Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
    Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
    Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
    Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
    – Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
    Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
    Nhẹ bảo chàng:
    “Em chẳng biết gì ư?
    Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

    Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
    Tha La vắng vì Tha La đã biết,
    Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”

               *

    Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
    Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
    Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc
    Tiếng hát rằng:
    Tha La giận mùa thu,
    Tha La hận quốc thù,
    Tha La hờn quốc biến,
    Tha La buồn tiếng kiếm,
    Não nùng chưa!
    Tha La nguyện hy sinh.
    Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
    Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
    Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
    Lạy Đức Thánh Cha!
    Lạy Đức Thánh Mẹ!
    Lạy Đức Thánh Thần!
    Chúng con xin về cõi tục để làm dân…

    Rồi… cởi trả áo tu.
    Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
    Rồi… nhẹ bước trở về trần…
    Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
    Người hãy dừng chân.
    Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
    Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
    Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
    Vui gì đâu mà tâm sự?
    Buồn làm chi mà bẽ bàng?
    Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
    Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
    Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
    Tha La thương người viễn khách đi thôi!

               *

    Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
    Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
    Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
    Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
    – Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
    Hãy về thăm xóm đạo
    Có trái ngọt cây lành.
    Tha La dâng ngàn hoa gạo,
    Và suối mát rừng xanh.
    Xem đám chiên lành thương áo trắng.
    Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh
    .


    Tha La xuất phát từ “Schla” trong tiếng Khmer, có nghĩa là trạm, nơi nghỉ. Địa danh này nay thuộc xã An Hoà, Trảng Bàng, Tây Ninh. Trong kháng chiến chống Pháp, thanh niên nam nữ Tha La nhiệt tình tham gia, ra đi không hẹn ngày trở về và nhiều người đã hy sinh trên các chiến trường khiến Tha La vắng bóng người, buồn cô quạnh.

    Vũ Anh Khanh viết bài thơ này vào mùa xuân năm 1949 khi về Tây Ninh ăn Tết cùng Thẩm Thệ Hà. Bài thơ được in trong tuyển tập Thơ mùa giải phóng do Sống Chung xuất bản năm 1950, với tên Tha La. Trước đó, năm 1949, tác giả có in trích đoạn của bài thơ này với tên Hận Tha La trong tiểu thuyết Nửa bồ xuơng khô của ông. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc thành bài hát Tha La xóm đạo, và Sơn Thảo phổ nhạc thành bài hát Hận Tha La.

    ——–

    Nguồn:

    https://www.thivien.net/V%C5%A9-Anh-Khanh/Tha-La/poem-SMitnXguhuzG4snkwR1H7g

    ***

    Lời bài hát Tha La xóm đạo

    Lời bài hát

    Đây suối rừng xanh đồn quanh, đây mây trắng nghìn hoa với cây lành
    Còn gì viễn khách về đây chi hỡi người, đất Việt giặc tràn lan
    Biết Tha La hận căm, nhẹ bước gặp cụ già ngạo nghễ đang ngóng gió
    Em chẳng biết gì ư? Cười rung rung râu trắng
    Đã từ bao năm qua khói loạn phủ mịt mù

    Nghe gió quạnh hiu, người ơi còn ai biết gì vui để tâm sự
    Tận lòng đất đá chuyển rung bao thế hệ có từng đoàn người trai
    Biết bao nhiêu người đi, thề chẳng trở lại nhà, mà giờ đây đã chết
    Nghe gió rít từng cơn, buồn trưa trưa lây lất
    Và buồn xưa xưa ngây ngất, lòng càng não nùng

    Khách về chi đây, nghe tiếng hát khách hận gió đây buồn
    Tiếng hờn ai oán, cời ra áo một chiều thu lửa dậy
    Nghe não nùng chưa
    Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
    Thôi, khi hết giặc xong
    Hãy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành

    Cây lá ngẩn ngơ nằm trên nghìn hoa máu làm hoen cả ven rừng
    Lòng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già mong manh
    Đám mây tan phủ quanh, trời tối ngoẹn ngàn hàng
    Lạnh dài đôi khúc hát
    Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tang tóc
    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà

    Nghe não nùng chưa?
    Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
    Thôi, khi hết giặc xong
    Hãy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành

    Cây lá ngẩn ngơ nằm trên nghìn hoa máu làm hoen cả ven rừng
    Lòng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già mong manh
    Đám mây tan phủ quanh, trời tối ngoẹn ngàn hàng
    Lạnh dài đôi khúc hát
    Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tang tóc
    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà

    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà
    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà
    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà

  • ĐÊM CHÚA GIÁNG TRẦN

    ĐÊM CHÚA GIÁNG TRẦN – Gởi chị/em của tôi  – 2107 chữ

    Anne-Marie Gleason-Huguenin (Madeleine)- Nuit de Noël – À ma sœur. TL (Phan Nữ Lan) dịch

    Trong một túp lều nhỏ tồi tàn, với khung sườn gỗ trơ vơ để lộ những thanh xà đen đúa  cho gió lùa rít qua vô số khe hở, làm ánh sáng của chiếc đèn bầu thủy tinh màu đen nhấp nháy liên tục. Cùng với ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi đang lụi tàn, những tiếng nổ lách tách cuối cùng  nghe  nghẹn ngào như tiếng than khóc của một tâm hồn đau khổ.

    Trên chiếc giường tồi tàn ọp ẹp, một người phụ nữ đang ngồi vá một  cái áo cũ trông như miếng giẻ rách. Từ thân hình nhỏ bé của đứa con trai nằm vùi dưới tấm chăn vải thô, mái tóc vàng hoe của nó lăn qua  lăn lại trên đùi cô.

    Bỗng từ trong sự tĩnh lặng của đêm tối, một loạt tiếng chuông nhẹ nhàng  ngân lên không trung khúc ca vui tươi với những hợp âm của mùa lễ hội, tuy yếu ớt nhưng ngọt ngào quyến rủ, được gió hiu hiu mang đến túp lều khốn khổ. Người phụ nữ trầm ngâm nghiêng vầng trán nhợt nhạt, buông thõng chiếc áo cũ kỹ… Cậu bé ngẩng đầu lên chăm chú lắng  nghe, rồi lẩm bẩm với vẻ run run sợ hãi theo bản tính của trẻ nhỏ :

    – Nhưng mẹ ơi, đó là tiếng chuông mà, mẹ!

    Cuộn mình vào lòng mẹ, nó ôm chặt cổ mẹ – đó là chiếc vòng đeo  huyền diệu nhất cho mẹ, tay bé vẫn còn run. Bà mẹ đặt môi hôn lên cánh tay  mũm mĩm của cậu, để rơi một giọt nước mắt xuống làn da mịn màng đang nóng ấm dần… Đứa trẻ lại rùng mình thỏ thẻ:

    – Mẹ ơi, tiếng chuông kia mà… sao mẹ lại khóc nữa, mẹ!…

    Thấy như thế, bé nức nở khóc, buồn rầu và hốt hoảng, tâm hồn bé thơ tràn ngập nỗi lo âu vì bí ẩn – không hiểu điều gì khiến mẹ nó khóc.

     Có lẽ hối hận và buồn đã khiến con phải khóc, cô trở nên  dịu dàng, say sưa hôn lên mái tóc vàng, vừa hôn vừa kể:

    -Con trai yêu, Con đang nghe chuông ngân vang  vì hôm nay là Lễ Giáng Sinh! Vào ngày xa xưa đó, một em bé đã chào đời trong chuồng ngựa…

    Đứa bé mở to đôi mắt kinh ngạc lắng nghe rồi  hỏi:

    – Nơi đó có xấu xa hơn ở đây không, mẹ?

    – Con yêu, xấu hơn nhiều. Và em bé vừa ra đời là Chúa Giê Su Hài Đồng, con của Thiên Chúa  và con biết không, Thiên Chúa là người đưa chúng ta đến trần gian để rồi sẽ cho ta lên thiên  đàng. Ở thế gian này chúng ta càng đau khổ, thì càng hạnh phúc  với Thiên Chúa. Con yêu, đêm nay, trong nhà thờ, mọi người sẽ cầu nguyện bên Chúa Hài Đồng xinh đẹp vừa chào đời.

    – Thật vậy sao Mẹ? Con chưa bao giờ nghe Mẹ kể chuyện này, phải không Mẹ?

    – Đúng vậy con, mẹ chưa kể vì trước đây con còn quá nhỏ!

    Cô tự hỏi có nên kể cho con nghe chuyện này không. Trong thâm tâm, lẽ nào cô đã quên  kể cho đứa con trai tội nghiệp của cô sao? – cô vẫn nhớ mình đã được mẹ kể cho biết về những gì sắp kể cho con nghe tối nay –

    – Kể cho con nghe chuyện này ư?

    Thật tình cô rất muốn, vì trong túp lều nhỏ chỉ có cô với đứa con bé bỏng, xa lánh sự tàn ác của loài người, vì họ đã không thương hại người mẹ trẻ khi tàn nhẫn xua đuổi cô lúc cô đến với họ, trên tay bế một thiên thần tóc vàng, và đang chịu tội thay cho người khác.

    Tuy vậy, cô vẫn khao khát lòng thương xót, sự đặc xá, và cầu xin khôi phục lại danh dự cho con mình. Cô vẫn hy vọng bằng  sự kiên nhẫn tuyệt  đối, cô sẽ tìm cách vượt qua định kiến đã tàn nhẫn đập vào cô. Và dù mọi người chế giễu nỗ lực của cô, lên án mạnh mẽ và lăng mạ cô, cả đôi khi những kẻ man rợ thậm chí còn xô đẩy đứa bé ngây thơ xinh xắn luôn mỉm cười với mọi  người, chỉ vì bé không hề hay  biết về sự độc ác và bất công của con người.

    Một ngày nọ, một mụ ác mồm ác miệng đã dang tay tàn nhẫn xua  đuổi cậu bé:

    – Cút đi, đồ ghẻ lở khốn nạn!

    Mụ quát vào mặt cậu bé lúc nó đang nhìn những đứa trẻ khác chơi đùa với ánh mắt khát khao được nhập bọn. Người mẹ chứng kiến hành động đó, và như một con sư  tử cái nổi cơn thịnh nộ, cô gầm lên, đẩy con mụ đáng ghét  bỉ ổi kia đi, rồi ôm chầm lấy con và chạy đi xa thật nhanh. Trong vòng tay cô, đứa bé cũng khóc to như mẹ. Từ ngày đó trở đi, cô ở mãi trong nhà cùng con, chỉ ra ngoài quanh khu đất nhỏ của mình để làm việc đồng áng và  chăm sóc vài con vật. Họ sống biệt lập, thậm chí cũng không đi lễ nhà thờ, vì lo sợ đứa trẻ tội nghiệp sẽ bị bọn họ cư xử thô lỗ như vậy.

     Ở góc khuất của khu làng này, định kiến đã giết chết sự hiền hòa, lòng tử tế, và quan điểm hẹp hòi, – tình cảm hạn chế đã bóp nghẹt mọi thứ,  bất cứ điều gì cũng không thể bị lãng quên, không thể xóa bỏ…

    Người phụ nữ đáng thương đang suy nghĩ về tất cả những nỗi kinh hoàng này, và trong suốt năm năm cô đã sống như một vị thánh, bao nhiêu tình thương yêu cô đều dành cho đứa bé tóc vàng. Đêm nay đứa con yêu của cô đã thấm hết những giọt nước mắt của người mẹ từng hy sinh quá nhiều, một người mẹ mang trái tim của tình yêu thuần khiết.

    Thật tội nghiệp cho cô  ấy, cho dù bị bọn họ nguyền rủa, khinh rẻ, chà đạp phẩm chất, chửi rủa bằng những lời lẽ cay độc, xét ra có đáng gì đâu? Tinh thần cô đủ mạnh mẽ để khinh miệt những sự truy bức, ngược đãi, hằn học này. Hơn nữa cô còn có đứa bé đáng yêu, cô sẽ luôn là người mẹ cũng đáng yêu của bé, và khi bé biết được cha mình là một tên tội phạm, bé sẽ nói:

    – Mẹ tôi yêu ông ấy, mẹ tôi là một vị thánh!

    Cô suy nghĩ về tất cả những điều này, và đã khóc làm ướt đẫm mái tóc vàng kia . Đứa trẻ ôm chặt bà hơn:

    – Mẹ ơi, bây giờ chúng ta đến nhà thờ, để xem Chúa Giê Su Hài Đồng đi Mẹ.

    Bà rất đỗi ngạc nhiên:

    -Không được đâu, con yêu, con hãy ngủ đi, ngủ đi con, để mẹ an lòng.

    Nhưng bé vẫn nài nĩ, với giọng nói  dịu dàng:

    -Mẹ ơi, chúng ta hãy cứ đi, được không mẹ?

    Cô không thể nào cho phép mình từ chối được nữa, vì bà không có quyền. Sinh vật bé nhỏ này không nhận được quà tặng nào; nó không hề biết quà là gì, và nó cũng chẳng đau khổ vì điều đó. Nhưng là người mẹ như cô, cô hiểu rõ nỗi kinh hoàng khi nhìn thấy những đôi guốc nhỏ để đựng quà[1] luôn trống rỗng, và giờ đây khi nhận ra rằng con mình không hề biết điều này, trái tim cô đau nhói vì nhớ đến biết bao niềm vui đã không còn nữa.

    Cậu bé được mẹ hối hả quấn lên người một miếng giẻ rách cũ, một trong những món đồ bố thí được thiên hạ khinh bỉ ném cho hai mẹ con như một chuyện bình thường. Sau khi choàng cho mình một chiếc khăn lên đôi vài gầy và cái lưng khòm vì khổ cực, cô đi vào bóng đêm, tay ôm chặt con.

    Đằng kia, ngôi nhà thờ sáng rực ánh đèn; trên đường di, cô lướt qua những người bộ hành đang xì xào khi thấy cô đến gần, nhưng cô làm như không thèm nghe họ nói gì. Cô đi thật nhanh, và khi nhìn thấy con không theo kịp, người mẹ liền cúi xuống bế bé lên và chạy xa khỏi chỗ họ.

    ===

    Trong một góc nhà thờ nhỏ, cô vừa mới quỳ xuống ở hàng ghế thì bị đẩy ra. Cô đành rời hàng ghế đó – nhưng rồi trong suốt bốn hàng như thế, cô vẫn bị đẩy ra và sỉ nhục … Người phụ nữ bất hạnh ngã xuống chấn song lan can, nơi những người nghèo đang cầu nguyện nãy giờ. Thấy cô, họ lùi xa ra, khinh miệt rõ ràng. Trước máng cỏ Chúa Hài Đồng, người phụ nữ bị ruồng bỏ cúi lạy trong khi đứa bé nhìn tượng Chúa, đôi mắt đẫm lệ, lòng dâng lên một tình cảm xúc động dịu dàng khi lần đầu được nhìn thấy Chúa.

    Khi nhận ra tất cả họ đều luôn ruồng bỏ hai mẹ con,  trong lớp quần áo rách rưới, cô đã bật khóc nức nở, nghẹn ngào cho niềm đau khôn nguôi của mình. Cô không cầu nguyện, chỉ khóc, trong khi mọi người thi nhau đến chỉ trỏ vào cô, là vợ của người đàn ông có tội nặng đã bị xử tử. Sau khi khóc một hồi , cô nhận thấy được cảm  giác bình yên.

    Bé đến bên mẹ, ôm  thật chặt vì cậu bé thiên thần yêu quý biết rằng những nụ hôn của bé sẽ lau khô tất cả những giọt nước mắt của mẹ.

    Và ở bên dưới máng cỏ, là bức tranh thật hài hòa tao nhã của hai mẹ con, với ánh nến nhợt nhạt càng khiến vẻ xanh xao của người phụ nữ đau khổ đáng  thương càng lộ rõ hơn lên, trong khi gương mặt của bé thì có vẻ như hồng hào hơn…

     Lúc tất cả mọi người cùng hát những bài thánh ca tuyệt vời, những bài hát mừng Giáng sinh cổ  xưa được yêu thích, với những âm thanh hòa hợp ngọt ngào vô tận ấy bay vút lên trời cao, như làn gió mơn man lướt qua, cùng với mùi hương trầm thơm ngát làm ngây ngất tâm hồn,… Đứa bé ngủ thiếp đi, mái tóc vàng hoe tựa vào ngực mẹ… Phần cô, cô vẫn cầu nguyện để cho bao nhiêu nỗi buồn được an ủi phần nào. Cô chợt cảm nhận trong thời gian xa xưa trước đây, cô đã biết cầu nguyện như thế nào trong niềm hạnh phúc ngọt ngào ấy. Hôm nay, cùng với con, cô sẽ học hỏi thêm nữa, bởi vì trong thánh lễ nửa đêm này, bao nhiêu niềm an ủi bỗng dưng đã đến với cô một cách huyền bí…

     Những hận thù bất công và những định kiến khủng khiếp có nghĩa lý gì? Cô buông tay, chán ghét việc phải chiến đấu thêm nữa, trong khi tâm hồn chìm đắm trong một giấc mơ huyền diệu.

    Và đứa bé yêu quý nằm trong vòng tay mẹ, trên môi nở nụ cười giống hệt Chúa Giê Su Hài  Đồng.

    ===================

    ĐÊM CHÚA GIÁNG TRẦN  –

    Anne-Marie Gleason-Huguenin (Madeleine)- Nuit de Noël – À ma sœur. TL dịch

    ===========


    [1] Theo phong tục cổ xưa ở các nước, chiều tối trước Giáng Sinh, các bé để đôi guốc (thường là bằng gỗ, ở nhà quê) ngay bên dưới lò sưởi- Truyền thuyết kể rằng ông già Nô En sẽ tụt từ mái nhà xuống qua ống khói của lò sưởi, và sẽ để quà của các bé (Ngoan) trong những đôi guốc ấy (ngày nay là những chiếc vớ dài) – Chú thích của người dịch

  • QUA BÃO LŨ CHỢT THẤY NẮNG HANH VÀNG…

    Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm (VH-LVC)

    Hình: NẮNG CHAN HOÀ TRÊN TRỜI ĐÀ NẴNG CHIỀU 23/12/2025. Ảnh: do HỒNG HOA CHỤP

    Bão lũ qua đi nhưng đau thương còn lại…
    Những ngôi nhà sập trụi chưa được dựng xong
    Người bị nước cuốn trôi sao yên mồ mã…
    Mất mát quá nhiều dù bão lũ đi rồi

    Sáng nay bỗng trời xanh cao thăm thẳm
    Gió hiền hòa đón nắng mới lên
    Bà mẹ trẻ bế con ra sân tắm nắng
    Mấy cụ già cười vui xoa bóp chân tay
    Nắng đem sức sống cho muôn loài, mọi vật
    Nắng dịu dàng đẹp lắm nắng ơi!  

    Tôi mong nắng trải dài trên đèo Prenn, Mimosa Đà Lạt…
    Khô bùn lầy đường dốc, hố voi…
    Những điểm trường ở vùng cao 
    Học trò chân đến lớp vững vàng không bị trượt
    Để cô gái Hơ Mông đeo gùi ca hát
    Lên nương rẫy hái lá cây rừng
    Những bà mẹ dân tộc địu con trên lưng an tâm làm việc
    Bé ngủ ngon trong nắng ấm ban mai!  

    Ôi nắng vàng trời đông thơ mộng
    Xuân sắp về vạn vật chờ mong
    Và giọt nắng lang thang khắp chốn
    Đem chút ân tình rải khắp nhân gian!   

             Huyền Tôn Nữ Huệ Tâm 

                   23/12/2025

    Hình: Trời xanh ngăn ngắt trên biển ĐÀ NẴNG
    Hình do HỒNG HOA CHỤP CHIỀU 23/12/2025
  • Màu Xanh Noel (Nguyễn Văn Đông) –  Màu xanh hy vọng của Giáng sinh xưa

    Với nhiều người, có lẽ mùa Giáng Sinh là mùa đẹp nhất trong năm. Vượt lên trên ý nghĩa của tôn giáo, lễ Giáng Sinh trở thành ngày lễ chung và mang đến niềm vui đến tất thảy mọi người. Đây mà mùa mang đến những màu đỏ rộn vui và màu xanh của hy vọng.

    Màu xanh cũng là màu trong ca khúc nhạc Giáng sinh bất hủ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông: “Màu Xanh Noel”. Ông cũng là tác giả của ca khúc rất quen thuộc trong Mùa Giáng Sinh là nhạc phẩm “Mùa Sao Sáng” suốt từ nửa thế kỷ qua.

    Nhạc phẩm “Màu Xanh Noel” được nhạc sĩ Đông viết ở âm thể Trưởng nhưng lại thoáng nét buồn, buồn man mác…

    MÀU XANH NOEL | sáng tác NGUYỄN VĂN ĐÔNG | trình bày Trần Tuấn Kiệt | hoà âm Quốc Huy:

    Ca khúc “Màu Xanh Noel” nói về tâm trạng của một cô gái yêu một người lính. Hai người đã cùng thề hẹn gặp nhau vào dịp Noel – một thực tế của thời chiến: “Mùa giáng sinh xưa anh hẹn anh sẽ về, ngày đó Noel bên hội sao trần thế”. Nhưng chàng đã trễ hẹn, không phải chàng quên lời hứa tình yêu với nàng mà vì chiến cuộc. Nàng thầm hỏi với chút hờn dỗi của người đang yêu:

    Mùa Giáng Sinh xưa anh hẹn anh sẽ về
    Ngày đó Noel bên hội sao trần thế

    “Anh có nhớ không anh?
    Em mặc màu áo xanh lam,
    Xanh như liễu Đà-lạt,
    Một chiều Đông Giáng Sinh”
    .

    Màu áo xanh lam là “đặc điểm tình yêu” của họ, nhưng phải là “xanh như liễu Đà-lạt” mới được.

    Màu xanh của thi sĩ Nguyên Sa lại “xanh màu lá sân trường”. Ông cũng đã từng si mê màu áo xanh nên ông so sánh: “Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường”. Có lẽ nhiều người thích màu xanh vì nó là biểu tượng của niềm hy vọng, màu xanh kỳ diệu.

    Nàng biết chàng lỡ hẹn nhưng nàng vẫn hy vọng và nhớ lại đêm Giáng Sinh năm xưa:

    “Ngồi chờ rê-vây-dông (réveillons, canh thức),
    Anh kể tích xưa rằng, vào một đêm giá lạnh,
    Rợp trời hào quang thiên thần,
    Và nơi hang BeLem,
    Thiên Chúa sinh trên máng cỏ là Con Chúa Trời”.

    Có lẽ nàng là người ngoại đạo, còn chàng là người có đạo, thế nên chàng mới kể cho nàng nghe “cổ tích” về Thiên Chúa, và chàng khẳng định bằng đức tin: “Nơi hang BeLem, Thiên Chúa sinh trên máng cỏ là Con Chúa Trời”. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông nói vậy là ông đã truyền giáo đấy.

    Kỷ niệm đẹp bỗng hóa ký ức bâng khuâng:

    “Ngày tháng trôi đi qua mau,
    mùa sao sáng năm nào,
    giờ cũng Noel một mình em thẫn thờ,
    quỳ bên hang đá nguyện cầu:
    Một người chân mây gió được sống gần nhau”.

    Tuy nàng có chút thất vọng nhưng nàng chưa tuyệt vọng, nghĩa là nàng vẫn có tia sáng hy vọng, nên nàng cầu nguyện cho chàng (người chân mây gió) và nàng “được sống gần nhau”. Tình yêu có nhớ nhung mới là tình yêu đích thực, và tình yêu đích thực sẽ đơm hoa kết trái là đời sống hôn nhân.

    Ngày quen nhau, nàng mặc áo màu xanh. Chiếc áo đó vẫn được nàng nân niu cất giữ cho lần hẹn đêm Giáng Sinh năm sau:

    “Tà áo năm xưa xanh màu thông Ðà-lạt,
    dành đến năm sau khi cùng anh dạo phố”.

    Tình yêu thật đẹp, hẹn hò thật lãng mạn, nàng chỉ muốn mặc áo xanh khi có chàng bên cạnh cùng dạo phố, và cũng là dấu ấn không thể phai nhòa:

    “Để nhớ Giáng Sinh xưa, kỷ niệm ngày Chúa ra đời,
    Cho em sống lại màu xanh ái ân”.

    Kỷ niệm tình yêu đã là tuyệt vời, kỷ niệm đó còn trên cả tuyệt vời vì đó chính là “kỷ niệm ngày Chúa ra đời”. Kỷ niệm tình yêu của họ đã được ghi dấu của Ơn Thánh, thế thì sao lại không tuyệt vời chứ?

    Kỷ niệm vui là kỷ niệm buồn, kỷ niệm buồn là kỷ niệm buồn hơn. Cái vui không làm người ta nhớ lâu, nhưng cái buồn khiến người ta nhớ mãi. Buồn mà không lụy, khổ mà không đau, sầu mà không thảm, cảm mà không phiền,… để làm gì? Để màu xanh vẫn thắm sắc hy vọng.

    Tác giả Trầm Thiên Thu

    Nguồn: https://www.facebook.com/nhacvang

    ***

    Lời bài hát: Màu xanh Noel – NS Nguyễn Văn Đông

    Mùa Giáng Sinh xưa anh hẹn anh sẽ về
    Ngày đó Noel bên hội sao trần thế
    Anh có nhớ không anh
    Em mặc màu áo xanh lam
    Xanh như liễu Đà Lạt
    Một chiều đông Giáng Sinh

    Ngồi chờ Réveillon
    Anh kể tích xưa rằng
    Vào một đêm giá lạnh
    Rợp trời hào quang thiên thần
    Và nơi hang Bê-Lem
    Thiên Chúa sinh
    Trên máng cỏ là con Chúa Trời

    Ngày tháng trôi đi qua mau
    Mùa sao sáng năm nào
    Giờ cũng Noel một mình em thẫn thờ
    Quỳ bên hang đá nguyện cầu
    Một người chân mây gió
    Được sớm gần nhau

    Tà áo năm xưa
    Xanh màu thông Đà Lạt
    Dành đến năm sau
    Khi cùng anh dạo phố
    Để nhớ Giáng Sinh xưa
    Kỷ niệm ngày Chúa ra đời
    Cho em sống lại màu xanh ái ân

  • Câu chuyện có thật về đằng sau ca khúc Hai Mùa Noel (Đài Phương Trang)

    Câu chuyện có thật về đằng sau ca khúc Hai Mùa Noel (Đài Phương Trang) – “Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường…” 2020/12/14

    Từ xưa đến nay, tại Việt Nam, mà đặc biệt là ở Sài Gòn, Noel không còn chỉ là lễ hội của người Công Giáo, mà trở thành mùa lễ hội chung của lương dân. Đêm 24 của tháng 12 dương lịch mỗi năm, người dân đổ ra đường để chào đón ngày Giáng Sinh. Cho dù ở Việt Nam không có cái lạnh lẽo thực sự của đêm đông, không có tuyết giăng trắng lối ngập đường, nhưng không khí se lạnh đặc biệt của ngay đêm Giáng Sinh cùng với đèn hoa lấp lánh làm cho lòng người rộn rã, tràn ngập những yêu thương trong không khí đón chào mùa lễ hội.

    Một mùa Giáng Sinh của gần nửa thế kỷ trước ở Sài Gòn, có một nhạc sĩ đã hòa vào dòng người đó để đi dự lễ ở Nhà Thờ Đức Bà, rồi chứng kiến một cảnh tượng gây xúc cảm để ông sáng tác thành một bài hát luôn luôn góp mặt trong danh sách những bài nhạc mùa Noel được yêu thích nhất, đó là nhạc sĩ Đài Phương Trang với ca khúc Hai Mùa Noel. Kể lại với báo giới, nhạc sĩ kể lại rằng đó là 9 giờ đêm ngày 24/12/1972, ông có mặt trước nhà thờ và chợt thấy một thanh niên trang phục lịch sự đứng bên gốc cây, có vẻ đang ngóng đợi một điều gì.

    Đến giờ Thánh Lễ, mọi người đều tiến về phía giáo đường thì người thanh niên ấy vẫn chỉ đứng đó, mắt nhìn bốn phía, gương mặt lộ vẻ lo âu, thỉnh thoảng đưa tay xem đồng hồ…

    Hình ảnh đó cứ ám ảnh trong tôi. Rồi khi tan lễ vào lúc nửa đêm, đoàn người lũ lượt ra về, tôi để ý và rất ngạc nhiên khi thấy người thanh niên vẫn còn đứng ở chỗ cũ với vẻ bồn chồn, buồn bã. Tôi đi ngang qua và khẽ nhìn khuôn mặt người ấy, lòng thầm cám cảnh cho một người mãi đợi chờ mà người kia không hiểu vì sao lại không đến chỗ hẹn?” – nhạc sĩ Đài Phương Trang kể lại.

    Đến mùa Noel năm sau (1973), khi này nhạc sĩ Đài Phương Trang làm việc trong hãng băng dĩa Continental – Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông làm giám đốc, đang thực hiện cuốn băng Sơn Ca số 3 chủ đề Giáng Sinh. Ông giám đốc đã đề nghị nhạc sĩ Đài Phương Trang viết một ca khúc về Noel. Khi đó nhạc sĩ nhớ lại hình ảnh một năm trước đó, cảm xúc cũ lại hiện về tràn ngập trong lòng, nên chỉ trong vòng 2 tiếng đồng hồ đã hoàn thành ca khúc Hai Mùa Noel. Bài hát này được ca sĩ Anh Khoa thu âm đầu tiên và được phát hành vào dịp Noel năm 1973 trong băng Sơn Ca 3.

    Mời bạn nghe sau đây: PBN 112 | Minh Tuyết & Trần Thái Hòa – Hai Mùa Noel

    Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường.
    Mùa Noel đó anh dắt em vào tình yêu.
    Quỳ bên hang sâu nghe lời kinh thánh vang cầu.
    Nhìn nhau không nói nên câu vì biết nói nhau gì đâu.
    Mùa Noel qua chúng ta chia tay giã từ.
    Hẹn nhau năm tới khi Giáng Sinh về muôn nơi.
    Mình trao cho nhau hoa lòng nhẫn cưới thiệp hồng.
    Dìu nhau xem lễ đêm Đông.
    Bên nhau muôn đời em ơi
    Nhưng nay, mùa Noel đến rồi.
    Từng đêm anh vẫn nguyện cầu, cầu cho ta mãi yêu nhau.
    Đêm nay giáo đường vang tiếng kinh cầu.
    Nơi xưa mình anh đứng không thấy bóng em đâu.
    Nửa đêm tan lễ bước chân bơ vơ trở về.
    Chợt nghe nước mắt rơi ướt trên bờ môi khô.
    Rồi Noel qua như mộng ước cũng xa rồi.
    Gặp nhau chi để thương đau
    Yêu nhau sao đành xa nhau?

    Có thể thấy với tâm hồn nhạy cảm của một nhạc sĩ, chỉ cần một khung cảnh thoáng qua trước mắt cũng đủ để Đài Phương Trang viết thành bài hát về một chuyện tình buồn thương trong mùa Noel, mà hầu hết là do nhạc sĩ tưởng tượng ra.

    Tình yêu của đôi tình nhân trong bài hát được bắt đầu vào một đêm Giáng Sinh đầy lãng mạn. Họ gặp nhau khi cùng đến nhà thờ, rồi sau đó cùng chung ước nguyện:

    Hẹn nhau năm tới khi Giáng Sinh về muôn nơi.
    Mình trao cho nhau hoa lòng nhẫn cưới thiệp hồng.
    Dìu nhau xem lễ đêm Đông. Bên nhau muôn đời em ơi!…

    Nhưng đó là lần đầu tiên và cũng là duy nhất mà chàng trai được quỳ cạnh người mình yêu trong đêm Noel. Không hiểu vì lý do gì, mối tình đẹp đó đã tan vỡ để lại bao khổ đau tiếc nuối:

    Rồi Noel qua như mộng ước cũng xa rồi.
    Gặp nhau chi để thương đau
    Yêu nhau sao đành xa nhau…

    Dù là một câu chuyện tưởng tượng được nhạc sĩ cảm tác khi nhìn thấy một chàng trai lẻ loi chờ đợi người yêu trong đêm Noel, nhưng có lẽ bài hát đồng cảm được với hoàn cảnh của nhiều người, nên Hai Mùa Noel trở thành một trong những bài tình ca buồn được mở nhiều nhất mùa Giáng Sinh hàng năm.

    Câu chuyện về bài hát còn ly kỳ hơn nữa, khi mà sau này nhạc sĩ Đài Phương Trang kể lại rằng chỉ 2 tuần sau khi bài hát được phát hành và công chúng đón nhận, nhạc sĩ đã nhận được thư của người tên Thanh gửi đến. Trong thư, ông Thanh tự nhận mình chính là người thanh niên đã đứng chờ người yêu trước Vương Cung Thanh Đường vào năm trước đó, và ngỏ lời cảm ơn nhạc sĩ đã viết lên nỗi lòng của mình. Ông cũng cho biết nhờ ca khúc này mà gặp và nối lại tình yêu với cô Duyên, là người con gái đã không đến chỗ hẹn vào đêm Giáng Sinh năm 1972 vì một sự hiểu lầm.

    Tình yêu của họ ngỡ đã tan vỡ, nhưng nhờ bài hát với những ca từ và hình ảnh về chàng trai cứ đứng chờ người yêu, mãi đến lúc tan lễ mà vẫn chưa về đã gây xúc động cho Duyên. Cô cảm nhận được tình cảm chân thành của ông Thanh, bao nhiêu hờn trách, hiểu lầm vụt tan biến và họ đã nối lại mối duyên tình.

    Sau đó, nhạc sĩ Đài Phương Trang có hẹn gặp ông Thanh và nhận ra đúng Thanh là người thanh niên năm trước đã để lại trong trí ông một ấn tượng khó quên. Khoảng 3 tháng sau, ông nhận được thiệp hồng và đã đến dự lễ cưới của Thanh – Duyên.

    Nhạc sĩ Đài Phương Trang

    Trên báo Thanh Niên, nhạc sĩ Đài Phương Trang tâm sự:

    “Tôi được thêm 2 người bạn mới. Nhưng sau 1975 Thanh và Duyên không còn ở Sài Gòn nữa mà chuyển về quê tận Cần Thơ sinh sống. Bẵng đi một thời gian, khoảng 3 năm sau tôi nhận được tin vợ chồng họ đã ra nước ngoài. Từ đó đến nay, đã gần 40 năm rồi, tôi không hề nhận được một tin tức nào về Thanh và Duyên. Không biết họ ở đâu? Mỗi năm vào mùa Giáng sinh, lòng tôi lại rộn lên những cảm xúc buồn vui khó tả. Vui vì ca khúc Hai mùa Noel qua mấy chục năm vẫn được công chúng hát lên đón mừng Giáng sinh. Buồn vì không biết hai người bạn có liên quan đến nội dung của ca khúc này, bây giờ trôi dạt đến phương trời nào? Nhưng dù bây giờ hai bạn ấy ở bất cứ nơi đâu tôi vẫn luôn mong họ được an lành trong mỗi mùa Noel và trong cuộc sống hằng ngày. Qua Báo Thanh Niên, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn và tri ân đến các bạn yêu nhạc, dù qua mấy mươi năm nhưng cứ mỗi dịp đón Giáng sinh lại vẫn nhớ đến và hát lên ca khúc Hai mùa Noel” đầy cảm xúc và nỗi niềm của tôi”

    Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn

    Nguồn: https://nhacxua.vn/cau-chuyen-co-that-ve-dang-sau-ca-khuc-hai-mua-noel-dai-phuong-trang-mua-noel-do-chung-ta-quen-ben-giao-duong/